Triển khai đào tạo cử nhân Kỹ thuật Phục hồi chức năng chuyên ngành Ngôn ngữ trị liệu tại trường ĐH KTYD Đà Nẵng

Ngày 26/9/2019, Hội nghị triển khai khóa đào tạo Kỹ thuật PHCN chuyên ngành Ngôn ngữ trị liệu được tổ chức tại Trường ĐH KT YD Đà Nẵng. Đây là chương trình đào tạo thí điểm cử nhân chính quy chuyên ngành ngôn ngữ trị liệu đầu tiên tại Việt Nam, là một hợp phần trong dự án “Phát triển đào tạo ngôn ngữ trị liệu tại Việt Nam” của MCNV, với nguồn tài trợ từ tổ chức USAID thông qua dự án DISTINCT của tổ chức VietHealth trong giai đoạn từ 2017 – 2022.

Sinh viên, giảng viên khóa cử nhân NNTL và đại biểu tại lễ Khai giảng

Buổi lễ triển khai này được ghi nhận là thời điểm đánh dấu kết quả của một quá trình với rất nhiều nỗ lực lớn của rất nhiều các bên liên quan, thể hiện sự thành công của mối quan hệ hợp tác nhiều bên gồm các tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước, các cơ quan, đơn vị nhà nước, cùng hướng đến việc thực hiện chương trình đào tạo về ngôn ngữ trị liệu một cách chính quy góp phần vào việc cung cấp đội ngũ nhân lực kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu có bằng cấp, có chất lượng để thực hiện các dịch vụ phục hồi chức năng cho nhóm dân số có nhu cầu tại Việt Nam.

Báo cáo toàn cầu về khuyết tật năm 2011 của WHO cho thấy 15% dân số thế giới bị một dạng khuyết tật nào đó và tỷ lệ người có khiếm khuyết về giao tiếp cao. Tại Hoa Kỳ, trong nhóm trẻ em trong độ tuổi từ 3 đến 17 tuổi, cứ trung bình 12 trẻ thì có 01 trẻ bị rối loạn ngôn ngữ, giao tiếp và nuốt, chiếm 7,7%. Hiệp hội Lới nói – Ngôn ngữ và Thính lực Hoa Kỳ đưa ra số liệu rằng có khoảng 40 triệu người Mỹ bị rối loạn ngôn ngữ và giao tiếp, tiêu tốn khoảng 154 – 168 tỷ đô mỗi năm cho các trị liệu và hỗ trợ liên quan. Báo cáo cũng chỉ ra rằng can thiệp sớm cho các rối loạn này đưa lại hiệu quả cao hơn và giảm gánh nặng chi phí hơn rất nhiều so với can thiệp muộn.

Ở Việt Nam, theo số liệu từ cuộc Tổng điều tra NKT toàn quốc năm 2016, có hơn 6,2 triệu người trên 2 tuổi, tương đương với 7,09% dân số bị ít nhất một trong số các dạng khuyết tật là khuyết tật nhìn, khuyết tật nghe nói, khuyết tật vận động và khuyết tật tâm thần, thần kinh. Cũng giống với nhiều nước, Việt Nam không có số liệu nào cho biết có bao nhiêu người cần trị liệu ngôn ngữ, tuy nhiên trích dẫn dữ liệu từ các báo cáo cho thấy rằng 15% trong tổng số người khuyết tật tại Việt Nam có vấn đề về “ngôn ngữ”. Với nhóm trẻ em, các báo cáo cũng cho thấy rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng đến 25% trẻ em ở độ tuổi tiền học đường.

Không có sự giúp đỡ của chuyên viên ngôn ngữ trị liệu thì các rối loạn giao tiếp có thể dẫn đến hậu quả lâu dài bao gồm khó khăn trong “học viết và đọc, tập trung và suy nghĩ, tính toán, giao tiếp, di chuyển, tự chăm sóc bản thân, các mối quan hệ với bạn bè, quan hệ  cha mẹ – con cái, mối quan hệ với các anh chị em, học tập tại trường học, tìm kiếm và duy trì việc làm”. Rối loạn  giao tiếp ở trẻ nhỏ nếu không được trị liệu thì có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành ảnh hưởng đến công việc sau này, đến hòa nhập xã hội và sức khỏe tâm thần của mỗi người. Những người gặp khó khăn trong giao tiếp thường có khả năng thất nghiệp cao và thu nhập thấp.

Năm 2016, USAID đã thực hiện một đánh giá về tính sẵn có của dịch vụ ngôn ngữ và NNTL và phân tích tình hình NNTL tại Việt Nam. Báo cáo đánh giá cho thấy rằng có hai nhóm quan điểm tiếp cận đối với NNTL là quan điểm của ngành y tế và quan điểm của ngành giáo dục đặc biệt. Trên quan điểm của ngành y tế, NNTL chủ yếu hỗ trợ sau phẫu thuật cho  người bị sứt môi hoặc hở hàm ếch và bệnh nhân có vấn đề giọng nói, bao gồm những người bị rối loạn giọng nói do lạm dụng giọng nói, ung thư đầu và cổ và bệnh về thần kinh khác. Có một số dịch vụ cho người có vấn đề về giao tiếp và nuốt sau đột quỵ và cho trẻ em mắc hội chứng tự kỷ. Tuy nhiên, sự hỗ trợ vẫn còn khá hiếm vì  thiếu nhân lực thực hành dịch vụ NNTL.

Mặc dù trong 10 năm qua, đào tạo về NNTL ở  Việt Nam đã  bắt đầu phát triển nhờ sự đóng góp to lớn từ các tổ chức nước ngoài thông qua việc tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn. Một nhóm nhỏ đã được đào tạo và có kiến thức, kỹ năng cần thiết để cung cấp dịch vụ NNTL ở Việt Nam. Tuy nhiên, con số này vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu và chưa có sự nhất quán trong quy trình và chất lượng dịch vụ NNTL do những người này cung cấp. Vì thế, cùng với các bên liên quan khác và các đối tác, MCNV, VietHealth và USAID xác định rằng cần phải có một chương trình đào tạo về NNTL có hệ thống và có cam kết mạnh mẽ, nỗ lực, nguồn đầu tư về tài chính và  nhân lực từ cả phía các cơ quan Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ.

Với việc thực hiện thí điểm chương trình đào tạo này tại trường ĐH KT YD Đà Nẵng và từng bước triển khai mở rộng ở các đơn vị đào tạo khác ở Việt Nam, các bên đối tác của Dự án hy vọng sẽ giúp từng bước lấp đầy khoảng trống giữa cung và cầu về NNTL tại Việt Nam.

Có 20 sinh viên đã lựa chọn theo đuổi chuyên ngành NNTL trong khóa đào tạo thí điểm đầu tiên này tại Trường ĐH KT YD Đà Nẵng. Các em sẽ có chặng đường 3 năm để học các môn chuyên ngành, học hỏi, trau dồi kỹ năng trước khi trở thành những chuyên viên NNTL được đào tạo bài bản, chính thống đầu tiên của Việt Nam ./.

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of

Tin Liên Quan