Thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất: Những thắc mắc thường gặp (Kỳ 1)

Tác giả: Phạm Văn Lam – Viện Ngôn ngữ học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Loạt bài gồm 4 kỳ của nhà nghiên cứu Phạm Văn Lam sẽ cung cấp thêm kiến thức để giải đáp phần nào những thắc mắc về quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất – quá trính chiếm lĩnh, nắm bắt và sử dụng ngôn ngữ – của trẻ em. Mời quý độc giả theo dõi.

Biết nói là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong quá trình phát triển của bất kì đứa trẻ nào, bởi lẽ, biết nói tức là trẻ đã chiếm lĩnh được một cách chính thức một công cụ tư duy và biểu đạt tường minh và vẹn toàn nhất của con người. Do vậy mà bậc cha mẹ nào cũng nên dành nhiều thời gian nhất để quan tâm, theo dõi và uốn nắn,… quá trình học và phát triển ngôn ngữ của con em mình (Trẻ lên ba cả nhà học nói). Các nhà khoa học thường gọi quá trình này là thụ đắc ngôn ngữ. Vậy, có phải mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc như nhau?

Mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc ngôn ngữ như nhau
Xét ở những bước, giai đoạn cơ bản và quan trọng nhất thì có thể nói rằng mọi đứa trẻ đều có quá trình thụ đắc ngôn ngữ như nhau, bất luận là chúng nói ngôn ngữ nào hoặc nói được ít hay nhiều ngôn ngữ. Việc thụ đắc ngôn ngữ cũng giống như việc học cách chơi một trò chơi. Nếu xem ngôn ngữ là một trò chơi thì trẻ em cũng phải học cách chơi trò chơi này. Các quy tắc của trò chơi ngôn ngữ mà một đứa trẻ phải học là các quy tắc về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng (cách sử dụng ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể). Ví dụ như, trẻ phải học cách phát âm các từ, cách lên giọng hay xuống giọng trong câu nói, cách đặt các từ cùng nhau, cách sử dụng khác nhau của những từ đồng nghĩa, cách sử dụng các từ nối, cách đặt câu hỏi, cách nói lịch sự, cách từ chối lời mời, cách chấp nhận lời đề nghị, cách bác bỏ một yêu cầu,…

Trẻ có học và sử dụng ngôn ngữ như người lớn?
Trẻ không học và sử dụng ngôn ngữ như người lớn thường làm. Lời giải thích hết sức đơn giản và nghe có vẻ “hơi cùn” cho điều này là “Trẻ em là trẻ em! Người lớn là người lớn!”. Việc thụ đắc ngôn ngữ của trẻ là một quá trình lâu dài, tuần tự và đầy rẫy những lỗi có lí do rất chính đáng và rất thuyết phục. Những lỗi này, về bản chất, rất khác những lỗi học và sử dụng ngôn ngữ của người lớn. Lỗi học và sử dụng ngôn ngữ của trẻ là một cái gì đó có tính tất yếu, không thể không trải qua, để từ đó trẻ có thể phát triển và hoàn thiện ngôn ngữ của mình. Những lỗi này dù có được người lớn sửa ngay tức thì hay không thì cũng chẳng hề quan trọng hay ảnh hưởng gì nhiều đến quá trình phát triển ngôn ngữ của đứa trẻ, vì những lỗi này theo thời gian sẽ mất đi một cách tự nhiên. Ví dụ, khi mới học nói trẻ có thể nói “mồm của cái phích”, “cây chảy máu”, “con vịt đang nói và cười”,… Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là khi trẻ mắc những lỗi nói liên quan đến ứng xử, đạo đức, các bậc cha mẹ vẫn cứ bỏ mặc mà không uốn nắn chúng.

Trẻ học loại ngôn ngữ nào và học như thế nào?
Ngôn ngữ mà trẻ sẽ học chính là ngôn ngữ mà đứa trẻ được tiếp xúc một cách trực tiếp, liên tục ngay từ đầu. Ngôn ngữ, phương ngữ nào đang được sử dụng chung quanh đứa trẻ, thì chính ngôn ngữ, phương ngữ đó sẽ được đứa trẻ học lấy một cách tự nhiên, vô thức. Cho nên chẳng có gì ngạc nhiên cả khi một đứa trẻ có cha mẹ nói giọng Bắc nhưng chính đứa trẻ ấy hoàn toàn lại có thể nói giọng Nam khi chúng sinh ra và lớn lên ở môi trường mà những người nói chuyện với chúng hằng ngày hằng giờ nói giọng Nam. Khi bắt đầu bập bẹ, trẻ sẽ nói theo cách nói của cha mẹ hay người chăm sóc chúng, khi mà chúng chơi đùa cùng những đứa trẻ khác (nhất là khi trẻ được khoảng 3 tuổi) trẻ sẽ nói cái ngôn ngữ như những đứa trẻ cùng trang lứa. Chính lúc này, cha mẹ rất khó có thể kiểm soát được cách nói năng của trẻ. Chúng sẽ có giọng nói riêng, chúng sẽ học những từ ngữ mà chúng cần, những cách nói mà chúng thấy hấp dẫn,… Giả dụ rằng các bậc cha mẹ hay những người chăm sóc trẻ “nói ngọng” (như không phân biệt được l (lờ cao) hay n (nờ thấp), không phân biệt được dấu hỏi (?) và dấu ngã (~), phát âm “nói chuyện” thành “nói chiện”,…), gọi “con tôm” là “con tép”, gọi “cái chảo” là “cái sanh”, nói “thái thịt” thành “sái thịt”,… thì chúng ta chỉ có hai giải pháp hay lựa chọn mà thôi: một là chấp nhận những lỗi ấy; hai là không chấp nhận những lỗi ấy bằng cách tự mình phải nói chuẩn, hay phải chuyển môi trường sống, hay phải thay người giúp việc,… Cũng tương tự như thế, nếu cha mẹ không phân biệt được giữa cách nói l và n, hỏi và ngã,…. nhưng lại sống ở vùng không mắc những lỗi này thì các bậc cha mẹ cũng yên tâm rằng con mình sẽ mặc nhiên cũng không mắc lỗi vì bản thân cha mẹ cũng chỉ là một thiểu số trong đa số thành viên của cộng đồng nơi con cái mình đang sống.

Trẻ học những gì diễn ra quanh chúng, ví dụ như cách mặc quần áo, cách sắp bàn ăn, các cử chỉ,… qua những gì cha mẹ hay người giúp việc nói và làm, sau đó là qua hàng xóm, nhà trường, xã hội,… Điều này cũng có nghĩa là trẻ đang học cách thực hiện và tuân thủ các chuẩn mực về lời nói và việc làm có tính xã hội. Chúng ta nói và dạy trẻ biết thế giới xung quanh của chúng ta và trẻ học qua những gì chúng ta nói và dạy trẻ. Trẻ cũng học ngôn ngữ của chúng ta, học cách thức chúng ta sử dụng ngôn ngữ nói chuyện và dạy dỗ chúng. Điều này cũng có nghĩa là ngôn ngữ mà trẻ đang học chính là cái ngôn ngữ đang được sử dụng quanh chúng.

Trẻ cần gì để loại những lỗi ngôn ngữ đó?
Những lỗi cơ bản như ta đã nói ở trên hoàn toàn có thể được trẻ loại bỏ một cách tự nhiên theo thời gian. Điều này cũng có nghĩa là: Trẻ cần thời gian thực sự để học nói một cách tự nhiên và cũng cần thời gian thực sự để loại bỏ một cách tự nhiên những lỗi trong quá trình học nói. Hai chữ “tự nhiên” ở đây có một vai trò quan trọng. Tự nhiên đó là sự tự nhiên và bình thường về mặt tâm lí. Sức ép về mặt tâm lí khi đứa trẻ học nói và bị mắc lỗi khi học nói là điều cần tránh. Trẻ cần một môi trường tâm lí hoàn toàn thoải mái, tự nhiên để học ngôn ngữ và loại bỏ lỗi ngôn ngữ mắc phải trong quá trình học ngôn ngữ. Các bậc cha mẹ cần biết và quan tâm đến điều này. Nếu các cha mẹ muốn tác động đến quá trình sửa và loại bỏ lỗi này thì làm thế nào? Cách tốt nhất là cha mẹ phải vui vẻ nói chuẩn và vui vẻ lặp lại một cách tự nhiên cách nói chuẩn đó để trẻ có thể nghe và tự điều chỉnh dần dần một cách đương nhiên.

Trẻ có bắt chước ngôn ngữ của người lớn một cách y hệt hay không?
Trẻ không hề lặp lại một cách đơn giản những gì mà chúng được nghe, được thấy. Cái mà trẻ được nghe, được thấy, được học không hề đồng nhất và có cùng “hình dạng biểu hiện” với cái mà trẻ nghe được, thấy được và học được. Bởi lẽ, chúng là những sinh thể đang phát triển, đang tự hoàn thiện về thể chất, trí tuệ và tâm lí, đang phát triển và hoàn thiện sự nhận thức và năng lực nhận thức của mình. Chúng là những sinh thể đang tự sản sinh ra mình và đang từ từ tự hoàn thiện mình trong môi trường với sự tương tác và hướng dẫn của người lớn. Không phải ngay từ đầu là đứa trẻ đã có thể sử dụng được ngay các bộ phận cấu âm của mình để biểu đạt một cái gì đó chính xác như người lớn. Chúng cần phải học hỏi cách để tri giác, cảm nhận và nhận thức xung quanh. Chúng thực hiện điều này bằng sự điều chỉnh liên tục những kết quả nhận thức của chúng sao cho phù hợp với năng lực ngôn ngữ và nhận thức của chúng. Chúng sẽ tự động loại bỏ những gì là quá phức tạp mà chúng không thể hiểu nổi khỏi hệ thống tri giác và nhận thức của mình. Sự khác biệt giữa năng lực sinh học và năng lực nhận thức của trẻ chính là một vấn đề đối với quá trình thụ đắc ngôn ngữ của trẻ.

Ngôn ngữ và lời nói của trẻ có đồng nhất với nhau hay không?
Ngôn ngữ học phân biệt rất rõ ràng hai khái niệm ngôn ngữ và lời nói. Ngôn ngữ là cái trừu tượng chung của xã hội và được thể hiện ra bằng lời nói dưới dạng âm thanh cụ thể của từng cá nhân. Lời nói và ngôn ngữ là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Lời nói gắn với năng lực thể chất, trong khi đó ngôn ngữ gắn với năng lực trí tuệ. Ví dụ, trẻ hiểu từ “thịt”, nhưng ta hỏi trẻ “ăn thịt hay ăn sịt”, trẻ sẽ nói là “ăn sịt” chứ không thể nói “ăn thịt” với ý định là “ăn thịt”. Trẻ nhận ra rằng phát âm “ăn sịt” là không được bình thường, nhưng trẻ không thể nào phát âm được là “ăn thịt” như người lớn. Ở đây ngôn ngữ của trẻ là “thịt” nhưng lời nói của trẻ lại là “sịt”. Nếu ta chọc giận trẻ với từ “sịt”, rất có thể trẻ sẽ bực mình với những lời nói này. Hay một ví dụ tương tự và phổ biến khác là, trong tiếng Việt, khi học nói, hầu hết các từ có dấu ngã đều có xu hướng được trẻ phát âm giống như dấu hỏi hoặc nặng. Ở ví dụ này, cái ngôn ngữ trong đầu đứa trẻ chính là dấu ngã, nhưng biểu hiện lời nói bên ngoài lại thường là dấu hỏi hay dấu nặng, vì cách phát âm của dấu hỏi và dấu nặng dễ và tốn ít năng lượng hơn cách phát âm của dấu ngã.

Năng lực lời nói và ngôn ngữ là hai năng lực gần như là độc lập với nhau. Cái ngôn ngữ đang xuất hiện trong trẻ không hề phản ánh cái lời nói trong trẻ và ngược lại. Nói rộng hơn, cái mà trẻ hiểu được không hề phản ánh hết những gì mà trẻ học được, nói ra được và ngược lại. Nói chung, cái được học của trẻ thường lớn hơn cái học được. Có thể hiểu điều này qua những lời nói lắp, nói nhịu hay nói ngọng. Lẽ dĩ nhiên, khi trẻ mắc những lỗi này – những lỗi có dấu hiệu bệnh lí hay tâm lí – thì chúng ta cần thiết phải sửa lỗi cho trẻ. Để trẻ có thể rèn luyện, phát triển lời nói và năng lực lời nói của mình song hành cùng ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ thì những câu nói khó, những câu có cách kết hợp âm vần đặc biệt, những bài vè hay đồng dao kiểu như “Nồi đồng nấu ốc, nối đất nấu ếch”, “Buổi trưa ăn bưởi chua”,…”Con lươn nó luồn qua luờn”; “Lúc nào lên núi lấy nứa về làm lán nên lưu ý nước lũ”; “Con cá mòi béo để gốc quéo cho mèo đói ăn”; “Chị nhặt rau rồi luộc em nhặt rau luộc rồi”; “Anh Thanh ăn sắn, anh Hạnh ăn hành”; “Đầu làng Bông, băm măng, bát mắm; Cuối làng Bông bát mắm,băm măng”; “Lúa nếp là lúa nếp làng, Lúa lên lớp lớp, lòng nàng lâng lâng”; “Luộc hột vịt lộn, luộc lộn hột vịt lạc, ăn lộn hột vịt lạc, luộc lại hột vịt lộn lại lộn hột vịt lạc” ,… lại là những trò chơi bổ ích đối với trẻ.

Liên quan đến vấn đề này, có một điều chúng ta cần chú ý là việc viết chữ. Những đứa trẻ nói giọng Bắc thường hay viết sai hay lẫn lộn giữa ch – tr, x – s, r – d/ gi, hay những đứa trẻ không phân biệt được l với n, dấu ngã với dấu hỏi, âm cuối n với t, ng với c, nh với ch,… không có nghĩa là cái ngôn ngữ trừu tượng trong đầu chúng không thể phân biệt được. Ngôn ngữ viết trong trường hợp này chẳng qua chỉ là một sự phản ánh của sự không phân biệt cái thói quen về mặt lời nói thành chữ viết mà thôi. Trẻ viết “con trâu”, “cá sấu” thành “con châu”, “cá xấu” không có nghĩa là trẻ không biết đến các từ (và một cách tương ứng là các thực thể được gọi tên bằng chính các từ) “con trâu”, “cá sấu” trừu tượng ở trong trí não thực sự.

Sự phát triển cả về phương diện ngôn ngữ và lời nói đều phải cần có thời gian và đều phải trải qua các giai đoạn khác nhau. Ví dụ về lời nói, cần có thời gian để phát âm được các âm khó. Về ngôn ngữ, cần có thời gian để phân biệt được các cách nói khó kiểu như “của anh”, “của mình”, “của bạn”,…Về chữ viết (như vấn đề chính tả), cũng cần có thời gian để chuyển cái ngôn ngữ nói vô thức thành ngôn ngữ viết hữu thức.

Thụ đắc ngôn ngữ là gì? Thụ đắc ngôn ngữ là một thuật ngữ của tâm lí học và ngôn ngữ học. Thụ đắc ngôn ngữ hiểu nôm na là quá trình mà đứa trẻ chiếm lĩnh, nắm bắt ngôn ngữ để giao tiếp. Đó chính là quá trình hiểu và sử dụng ngôn ngữ. Diễn giải đơn giản hơn thì có thể hiểu thụ đắc ngôn ngữ là quá trình học ngôn ngữ một cách tự nhiên. Thụ đắc ngôn ngữ cũng có thể được xem là một đặc trưng riêng vốn có của loài người. Khi một đứa trẻ học, chiếm lĩnh ngôn ngữ mẹ đẻ của mình thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ nhất; khi đứa trẻ chiếm lĩnh, học các ngôn ngữ khác ngoài ngôn ngữ mẹ đẻ thì đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai.

Nguồn: http://tiasang.com.vn/-giao-duc/Thu-dac-ngon-ngu-thu-nhat-Nhung-thac-mac-thuong-gap–9781

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of

Tin Liên Quan