Nguyễn Văn Duân 1, Lê Văn Cường 2, Karen Wylie 3, Lindy McAllister 4
Giới thiệu: Nghiên cứu này tìm hiểu trải nghiệm của các bậc phụ huynh có con mắc khuyết tật giao tiếp trong việc tự khắc phục và tìm kiếm sự giúp đỡ tại khu vực nông thôn tỉnh Quảng Nam. Nghiên cứu của chúng tôi đã xác định một loạt các biện pháp và chiến lược tự khắc phục mà các bậc phụ huynh đã áp dụng cho con của mình và những nơi họ tìm kiếm sự giúp đỡ. Tuy nhiên không phải nỗ lực nào của họ cũng mang lại kết quả tốt và không phải những nơi mà phụ huynh tìm kiếm sự giúp đỡ đều cho họ những lời khuyên đúng, những biện pháp can thiệp phù hợp. Kết quả nghiên cứu phản ánh một bộ phận cha mẹ có con mắc khuyết tật giao tiếp tại khu vực nông thôn Quảng Nam chưa nhận thức đầy đủ về dạng khuyết tật này. Đồng thời cho thấy sự thiếu thốn trong việc cung cấp dịch vụ cho các trẻ khuyết tật giao tiếp tại địa phương.
Mục tiêu: Nghiên cứu này với mục đích tìm hiểu những biểu hiện ban đầu ở trẻ khiến phụ huynh cảm thấy lo lắng. Chúng tôi cũng tìm hiểu những hoạt động mà các bậc phụ huynh đã làm để tự khắc phục tình trạng của con mình cũng như những nơi họ đã đến để tìm kiếm sự giúp đỡ và những thông tin mà họ nhận được từ những nơi họ tìm đến.
Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng phương pháp mô tả định tính để tìm hiểu những trải nghiệm của các bậc cha mẹ. Mười một khách thể khảo sát đã được tuyển dụng theo phương pháp phối hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu có chủ đích, phù hợp với các tiêu chí chọn vào của nghiên cứu. Phỏng vấn bán cấu trúc theo chủ đề xác định đã được thực hiện với tất cả các khách thể khảo sát. Quá trình phân tích dữ liệu theo các bước được liệt kê bởi Elo & Kyngäs (2008). Để kiểm soát sai lệch và đảm bảo tính tin cậy, chúng tôi đã sử dụng bảng kiểm COREQ với 32 tiêu chí dùng trong các nghiên cứu định tính.
Kết quả: Về lý do mà cha mẹ của trẻ mắc khuyết tật giao tiếp bắt đầu lo lắng về sự phát triển của trẻ, chúng tôi đã ghi nhận 12 dấu hiệu mà các khách thể khảo sát đã báo cáo, trong đó các dấu hiệu liên quan đến lời nói, ngôn ngữ, giao tiếp và hành vi được các khách thể khảo sát quan tâm hơn cả.
Về các hành động tự khắc phục, chúng tôi đã nhận ra rằng các khách thể khảo sát đã ưu tiên chọn các chiến lược giao tiếp, các phương pháp giảng dạy cụ thể để tự khắc phục những khó khăn của con mình. Bên cạnh đó các khách thể khảo sát cũng đã áp dụng các biện pháp như hạn chế sử dụng ti vi, điện thoại thông minh hay thay đổi môi trường để giúp con họ cải thiện các vấn đề về giao tiếp.
Thứ tự ưu tiên mà các khách thể khảo sát trong nghiên cứu của chúng tôi đã lựa chọn khi tìm kiếm sự giúp đỡ (1) Hệ thống Tây y (bệnh viện), (2) Người trong cộng đồng (người cùng cảnh ngộ), (3) Lĩnh vực ngôn ngữ trị liệu, (4) Lĩnh vực giáo dục, (5) Tâm linh và (6) Lĩnh vực y học cổ truyền.
Chúng tôi cũng nhận ra rằng các khách thể khảo sát đã nhận được nhiều loại thông tin bao gồm sự động viên trấn an, những lời khuyên, các thông tin về bệnh tật, sự chia sẻ kinh nghiệm, các hướng dẫn can thiệp và các chẩn đoán xác định tình trạng bệnh từ những nơi mà họ đã đến tìm kiếm sự giúp đỡ.
Kết luận: Kết quả của nghiên cứu này cung cấp cái nhìn khái quát về bối cảnh của các gia đình có trẻ mắc khuyết tật giao tiếp tại khu vực nông thôn tỉnh Quảng Nam. Sự thiếu thốn trong việc cung cấp các dịch vụ chẩn đoán và can thiệp cùng với sự nhận thức chưa đầy đủ của các bậc phụ huynh về khuyết tật giao tiếp ở trẻ em đã dẫn đến một số chiến lược can thiệp của họ dành cho trẻ còn chưa phù hợp. Từ kết quả nghiên cứu này chúng tôi kiến nghị:
- Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe giúp nâng cao hiểu biết trong cộng đồng về các dấu hiệu cờ đỏ nhằm phát hiện sớm các vấn đề giao tiếp ở trẻ em.
- Xây dựng môi trường giàu ngôn ngữ xung quanh trẻ, sử dụng các chiến lược phù hợp với tình trạng khuyết tật giao tiếp để giúp trẻ cải thiện.
- Luôn lấy trẻ và gia đình làm trung tâm. Kết nối các thành viên trong nhóm can thiệp để đưa ra những chiến lược can thiệp toàn diện và hiệu quả.
- Đào tạo nhân lực chuyên ngành ngôn ngữ trị liệu cung cấp cho các cơ sở y tế, giáo dục tại khu vực nông thôn và miền núi
Ghi chú nhóm tác giả:
Nguyễn Văn Duân 1: Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng. Học viên Ths. Kỹ thuật Phục hồi chức năng chuyên ngành Ngôn ngữ trị liệu, ĐH Y Dược Tp. Hồ Chí Minh. Khóa 2020 – 2022.
Lê Văn Cường 2: Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh
Karen Wylie 3: Đại học Curtin, Úc
Lindy McAllister 4: Đại học Sydney, Úc