Đặc điểm của ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam

ThS. Nguyễn Thị Bích Trang
TT Nghiên cứu Giáo dục Đặc biệt- Viện KHGDVN

(23/9/2016)

Đặt vấn đề
Ngôn ngữ là phương tiện truyền tải thông tin, cảm xúc của con người. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc lại sử dụng một loại ngôn ngữ riêng. Ngữ điệu vùng miền, độ tuổi, giới tính tạo nên sự phong phú ngôn ngữ. Không chỉ là lời nói, chữ viết mà các cử chỉ, ký hiệu, biểu cảm khuôn mặt… cũng là cách để mọi người giao tiếp với nhau.

Với những người khuyết tật nói chung và những người khiếm thị, khiếm thính nói riêng, khát khao được biết chữ luôn cháy bỏng. Hiểu được điều đó, nhiều người đã nỗ lực không ngừng để phát minh hệ thống những ngôn ngữ đặc biệt như: chữ nổi, ngôn ngữ hình thể, chữ ký tự…Những loại ngôn ngữ ấy không chỉ giúp họ biết chữ, đọc sách mà còn làm thay đổi cuộc sống, số phận của những con người này.

Không chỉ người khiếm thị mà những người câm, điếc cũng có thể nói chuyện, giao tiếp với mọi người nhờ hệ thống ngôn ngữ ký hiệu. Ngôn ngữ ký hiệu (hay còn gọi là ‘thủ ngữ’) bao gồm bảng chữ cái, số với những quy định riêng, các ước hiệu riêng. Giống như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu có những đặc điểm ngữ pháp riêng biệt. Bài viết này sẽ đề cập đến “Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam”.

Lịch sử hình thành ngôn ngữ ký hiệu tại Việt Nam
Có thể nói, Trường Câm điếc Lái Thiêu tiền thân của Trung tâm Nuôi dạy trẻ khiếm thính Thuận An, Bình Dương là cái nôi của nền giáo dục trẻ Điếc ở Việt Nam. Với lịch sử hình thành trên một trăm năm, Trung tâm là nơi đem đến cho cộng đồng người Điếc Việt Nam những ký hiệu ngôn ngữ đầu tiên, giáo dục người Điếc bằng lời nói kết hợp với ngôn ngữ ký hiệu (NNKH).

Trường được linh mục chính xứ họ đạo Lái Thiêu tên Azemar (còn được gọi là cha Lực) thành lập năm 1886. Từ năm 1866, cha Azemar lúc bấy giờ là cha sở họ đạo Lái Thiêu đã quy tụ khoảng 5 trẻ điếc để dạy ngôn ngữ và đạo đức. Đến năm 1880, cha gửi Nguyễn Văn Trường- một thanh niên câm điếc sang Pháp để học về phương pháp dùng kí hiệu ngôn ngữ. Khi anh Trường về nước, cha Azemar chính thức tuyên bố mở rộng trường dạy trẻ điếc vào năm 1886. Vì thế NNKH của Việt Nam cũng xuất phát từ NNKH Pháp (LSF) và hiện nay còn nhiều kí hiệu cơ bản giống kí hiệu của Pháp. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nên sau 38 năm thống nhất, Việt Nam vẫn chưa có điều kiện thống nhất những kí hiệu giáo tiếp cơ bản, chưa nghiên cứu để xác định và hình thành cho mình một hệ thống NNKH thực sự mang tên Ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam.

Đặc điểm của ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam
Cũng như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu của từng quốc gia, thậm chí là từng khu vực trong một quốc gia rất khác nhau. Điều đó là do mỗi quốc gia, khu vực có lịch sử, văn hóa, tập quán khác nhau nên ký hiệu để biểu thị sự vật hiện tượng cũng khác nhau. Chẳng hạn, cùng chỉ tính từ màu hồng thì ở Hà Nội người ta xoa vào má (má hồng), còn tại Thành phố Hồ Chí Minh lại chỉ vào môi (môi hồng). Tuy nhiên, ký hiệu tất cả mọi nơi đều có những điểm tương đồng nhất định. Ví dụ: ký hiệu ‘uống nước’ thì nước nào cũng làm như nhau là giả bộ cầm cốc uống nước, ký hiệu ‘lái ô tô’ thì giả bộ cầm vô lăng ô tô quay quay, v.v…

Có thể thấy ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam được chia thành 4 thành phần chính: Từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và ngôn ngữ viết.

Từ vựng:
Ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 58% từ vựng cốt lõi cơ bản của nó giống với ngôn ngữ ký hiệu Hà Nội và 54% giống với ngôn ngữ ký hiệu Hải Phòng. Những tỉ lệ này cho thấy ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh, ngôn ngữ ký hiệu Hà Nội và ngôn ngữ ký hiệu Hải Phòng không phải là những phương ngữ khác của cùng một ngôn ngữ. Bởi vì những phương ngữ của cùng một ngôn ngữ thường được mong đợi là phải chia sẻ từ khoảng 80% trở lên tỉ lệ cùng nguồn gốc với nhau về từ vựng cốt lõi cơ bản. Tuy nhiên những tỉ lệ này xác định rằng 3 ngôn ngữ ký hiệu quan trọng ở Việt Nam có thể được sắp xếp gần như là những ngôn ngữ có mối quan hệ thuộc cùng một họ ngôn ngữ. Những ngôn ngữ có liên quan trong cùng một họ ngôn ngữ có thể được mong đợi chia sẻ từ 36% đến 79% từ vựng cơ bản (ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ và Pháp, những ngôn ngữ được xem là có liên quan trong cùng một họ ngôn ngữ chia sẻ khoảng từ 61% từ vựng cơ bản. Ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ và Anh không có quan hệ gần nhau vì không chung một họ ngôn ngữ giống nhau, chúng chỉ có 31% cùng nguồn gốc trong từ vựng cơ bản.

Những người nghe thường có nhiều khái niệm nhầm lẫn về ngôn ngữ ký hiệu. Ví dụ những người nghe trong nhiều quốc gia thường cho rằng ngôn ngữ ký hiệu là toàn cầu. Hay là người nghe cho rằng lịch sử và cấu trúc của ngôn ngữ ký hiệu là tương tự với những ngôn ngữ nói trong quốc gia đó. Tuy nhiên với những bằng chứng mà chúng tôi đã trình bày ở trên về sự biến đổi trong ngôn ngữ ký hiệu đã chỉ ra rằng NNKH không phải là toàn cầu, bởi vì những từ vựng của  NNKH thay đổi thậm chí trong cùng một đất nước, như là Việt Nam.

Vốn từ ngữ của người câm điếc khá nghèo nàn chỉ có khoảng 200 từ có những từ quen thuộc không có.

VD: con bê, con nghé,…Hoặc nếu có thì không thống nhất mà được ký hiệu theo cách hiểu của cộng đồng hoặc cá nhân.

Trong vốn từ của người khiếm thính chủ yếu là động từ, các tính từ chỉ có một cấp độ ví dụ: Vui chứ không có vui vẻ hay phấn khích. không có các liên từ như: và, thì, là, mà,..

Cách cấu tạo từ ngữ trong NNKH chủ yếu là lắp ghép đơn thuần.

VD: Ký hiệu hoa hồng = hoa + hồng ( xoa má như trong má hồng).

Hoa sữa= hoa + sữa ( như ký hiệu uống sữa)Trong hệ thống ngôn ngữ cử chỉ ở Việt Nam hiện nay, chỉ có một số từ rất đơn giản về giới như “con trai”, “con gái”, còn hầu hết những từ dùng để chỉ các cơ quan sinh dục, từ nói về thay đổi sinh lý trong cơ thể, quá trình thụ thai đều không có.

Cách cấu tạo ký hiệu của người khiếm thính phụ thuộc vào những lý do như sau: vốn sống của người khiếm thính khá ít ỏi do học ít tiếp xúc với xã hội, do không được học hành nên vốn hiểu biết gần như không có.Trong khi người bình thuờng tư duy bằng “hình dạng, âm thanh, màu sắc” thì người câm điếc tư duy có tính hình tượng, trực quan, cụ thể cao hơn Bên cạnh đó là sự thiếu quan tâm của gia đình đến sự phát triển tâm lý trong độ tuổi dậy thì và thanh thiếu niên khiến trẻ khiếm thính gần như bị cô lập dễ bị trầm cảm từ đó dẫn đến không muốn tiếp xúc với cộng đồng.

Ngữ âm:
Đọc hình miệng là một quá trình tâm lý phức tạp của người điếc để tri giác tiếng nói theo sự vận động cấu âm thấy được của bộ máy phát âm và những động tác điệu bộ kèm theo ngôn ngữ của chúng ta. Đây là phương thức duy nhất có thể có để người câm điếc tri giác tiếng nói, là hình thức đặc thù của NNKH.

Khó khăn của quá trình đọc hình miệng là ở chỗ không phải tất cả mọi âm vị của ngôn ngữ chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy khi phát âm.Một số âm tương đối dễ nhìn thấy ( a,o, u, b, m..) một số âm khác khó hơn hoặc hoàn toàn không nhận thấy được (g, kh, t, đ, n..).

Bằng thính giác chúng ta phân biệt được 42 âm vị trong ngôn ngữ của chúng ta. Mỗi âm vị đều có những dấu hiệu đặc trưng: phương thức và vị trí hình thành âm hữu thanh hay vô thanh, âm cứng hay mềm.Tai của chúng ta có khả năng nhận biết và phân biệt tất cả những sắc thái âm thanh rất nhỏ.Về mặt này cơ quan thị giác kém hoàn hảo và ít thích ứng hơn. Như các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bằng thị giác người điếc có thể phân biệt được khoảng 12 nhóm khác nhau theo âm lượng, theo mức độ nhìn biết các âm hay đôi khi như người ta gọi “những hình tượng miệng”.

Những nhóm này phân bố theo mức độ tăng dần sự khó khăn khi đọc. Mỗi  nhóm đều có hình tượng thị giác của cấu âm tiêu biểu, chỉ riêng đối với nó. Tuy nhiên một vài nhóm bao gồm những âm mà những hình tượng tạo âm của chúng gần nhau (b, m, p, g, k,…) những âm này thuờng bị lẫn lộn trong khi đọc, trong thực tế chúng ta thường thấy người điếc đáng lẽ đọc ma lại thay bằng pa. Nét mặt cử chỉ điệu bộ là phương tiện hỗ trợ cho việc đọc hình miệng. Những điệu bộ và những thể hiện ở nét mặt phù hợp với nội dung lời văn làm cho việc đọc được dễ dàng và ngược lại.

Ngữ pháp:
Những cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ ký hiệu và ngôn ngữ nói trong một cộng đồng là khác nhau. Ví dụ ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh thường có thứ tự là chủ ngữ, bổ ngữ và động từ trong khi đó thì ngôn ngữ nói/viết tiếng Việt có thứ tự từ là chủ ngữ, động từ và bổ ngữ. Ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh đặt số từ sau danh từ trong khi ngôn ngữ nói/viết tiếng Việt đặt số từ trước danh từ.

Do tính giản lược và có điểm nhấn nên cấu trúc ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu nhiều khi không thống nhất, cùng một câu có thể sắp xếp nhiều cách khác nhau (thường thì điểm nhấn đuợc đưa lên đầu câu để gây hiệu quả chú ý).

VD: Bình thường ta nói: Hôm qua, tôi gặp lại người bạn thân ở công viên. (Trong câu này, điểm nhấn là GẶP, và BẠN THÂN).

NNKH: Bạn thân Gặp ở công viên hôm qua.

Ngôn ngữ viết:
Ngôn ngữ viết chỉ xuất hiện trong một số cá nhân không phải là câm điếc bẩm sinh tức là họ được đến trường được học hành. Ở người bình thường việc tiếp thu ngôn ngữ nói thường đi trước việc tiếp thu ngôn ngữ viết; còn ở người câm điếc quá trình này thường diễn ra song song, đôi khi những kỹ năng ngôn ngữ viết tiếp thu nhanh hơn ngôn ngữ nói. Vì ngôn ngữ viết mặc dù khó nhưng chúng lại có một số ưu thế hơn so với ngôn ngữ nói, vì nó không đòi hỏi phải nghe mà tiếp nhận nhờ quan sát bằng mắt. Người câm điếc trong khi viết thường dùng từ không đúng với nghĩ của từ, hoặc làm sai lệch các thành phần câu và từ.

Kết luận
Ngôn ngữ kí hiệu là công cụ giao tiếp đặc trưng của người khiếm thính, song nó không phải là bẩm sinh. Ngay cả người khiếm thính muốn diễn đạt tốt bằng NNKH cũng phải học và hiểu cách sử dụng loại hình ngôn ngữ này. Ngôn ngữ ký hiệu là đặc trưng của văn hóa người điếc, có ý nghĩa quan trọng đối với người điếc và sẽ hỗ trợ cho họ có cuộc sống tươi đẹp hơn. Người khuyết tật có quyền được công nhận và ủng hộ bản sắc ngôn ngữ và văn hóa riêng biệt của họ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Butterworth, R. & Flodin, M. (1995), History of Sign Language American, Pedigee Visual Dictionary, Berkley.
2. Lottie L.Riekehof (1981), The Joy of Singing, Gospel Publishing House, The United States of America.
3. Marc Marschark Patricia Elizabeth Spencer (2003), Deaf Studies, Language, and Education, Oxford University Press.
4. Phần mềm Từ điển Ký hiệu cho người điếc Việt Nam (ĐHSPTP.HCM)
5. Giáo trình ký hiệu cơ bản và an toàn giao thông cho người điếc Việt Nam
6. Tài liệu ‘Ký hiệu cho người điếc VN’ (3 tập)
7. http://www.aslpro.com/cgi-bin/aslpro/aslpro (Từ điển Ngôn ngữ ký hiệu Mỹ ASL)
8. Từ điển ngôn ngữ ký hiệu Mỹ

Nguồn: http://recese.vnies.edu.vn/khoa-hoc-giao-duc-dac-biet/sach-an-pham/dac-diem-cua-ngon-ngu-ky-hieu-viet-nam

Bình luận

avatar
  Subscribe  
Notify of

Tin Liên Quan